Bỏng

    0
    25

    Tiếng Anh: Burn

    Ở người, thương tổn các mô mềm (có thể cả xương) của cơ thể do tác dụng trực tiếp của sức nóng (nước sôi, lửa…), điện, hoá chất (uống nhầm axit, bị đổ axit vào người, rơi vào hố vôi đang tôi…) và bức xạ các loại. B là một tai nạn nặng thường xảy ra, nhất là ở trẻ em. Mức độ nặng nhẹ của B được đánh giá theo diện tích và độ sâu của vết B. B chiếm 5% diện tích cơ thể (đối với trẻ em), 10% (đối với người lớn) được coi là B nặng và phải được điều trị tại bệnh viện chuyên khoa. Độ sâu của vết B phụ thuộc vào nguyên nhân gây B. Nước sôi gây B nông (B độ I) ở vùng không có quần áo che phủ, tác động đến phần trên của lớp biểu bì, làm cho da đỏ ửng, rát; gây B độ II, tác động đến toàn bộ lớp biểu bì, gây phỏng nước, phù nề quanh vết B; gây B độ III, tác động đến toàn bộ lớp biểu bì, tạo nên nhiều mảng hoại tử, vết bỏng màu trắng, lõm, cứng. Điện gây nên vết B rất sâu với các mô bị phá huỷ nhiều. Hoá chất gây bỏng nặng ở da hoặc ở ống tiêu hoá.

    Mỗi người đều cần trang bị kiến thức về xử trí bỏng bởi thời gian ngay sau bỏng cực kì có kí nghĩa trong việc làm giảm mức độ tổn thương.
    1) Cách ly người bệnh với tác nhân gây bỏng, vd nguồn điện, lửa, quần áo ướt hoặc dính hóa chất.
    2) Ngâm hoặc đặt tổn thương dưới vòi nước chảy (nước 0-25 độ C) trong 0-30 phút đầu tiên sau bỏng
    3) Băng ép tổn thương bỏng bằng băng thun hoặc quấn bằng vải sạch vì phù nề diễn ra rất nhanh sau bỏng.
    4) Đưa bệnh nhân tới cơ sở y tế có chuyên khoa bỏng.
    Đối với vết B nông, diện tích nhỏ thì ngâm hay đắp nước lạnh, chùi sạch nhẹ nhàng bằng nước xà phòng hoặc dung dịch sinh lí đẳng trương, băng ép, cho uống nhiều nước (dung dịch oresol). Vết B nông có thể khỏi sau khoảng 10 ngày, không để lại biến dạng xấu. Vết bỏng nặng phải qua một quá trình chữa phức tạp, có thể kéo dài 1 hay 2 năm ở các cơ sở y tế. Lưu ý tiêm ngay cho nạn nhân huyết thanh chống uốn ván và giải độc tố uốn ván.

    Chuyên mục: Bỏng

    BÌNH LUẬN

    Please enter your comment!
    Please enter your name here