Home Loại Bài giảng chuyên ngành Chẩn Đoán Và Điều Trị Các Bệnh Lý Mi Mắt

Chẩn Đoán Và Điều Trị Các Bệnh Lý Mi Mắt

0
Chẩn Đoán Và Điều Trị Các Bệnh Lý Mi Mắt

Mục tiêu học tập:

  1. Khai thác bệnh sử và khám các bệnh lý về mi mắt
  2. Chẩn đoán các rối loạn thường gặp
  3. Điều trị bệnh nhân có bệnh lý mi mắt

“Bệnh lý mi mắt rất thường gặp. Việc chẩn đoán có thể rất dễ dàng nếu bạn biết mình cần tìm cái gì. Chúng tôi hi vọng rằng bằng việc đưa ra các ví dụ chung nhất có thể giúp bạn linh hoạt trong chẩn đoán và đưa ra điều trị thích hợp cho bệnh nhân”.

Case 1: Sụp mi

Chẩn đoán nguyên nhân:

Liệt dây III:

Trong liệt hoàn toàn dây thần kinh số III, sụp mi rất nặng, mắt có xu hướng nhìn xuống dưới, ra ngoài (down and out). Có thể giãn đồng tử do đè ép vào các sợi thần kinh phó giao cảm chạy ở phía rìa của thân dây III (các sợi thần kinh phó giao cảm này có nguyên ủy từ tủy sống, chi phối việc co đồng tử).

Liệt dây III không tổn thương đồng tử là ví dụ điển hình của liệt dây III không hoàn toàn trong đó đồng tử có kích thước bình thường, phản xạ đồng tử với ánh sáng dương tính trong khi chức năng vận nhãn liệt hoàn toàn. Điều này xảy ra do sự cấp máu cho phần trung tâm của thân dây III bị giảm đáng kể, chủ yếu do bệnh lý mạch máu nhỏ. Do vậy, việc thăm khám lâm sàng tỉ mỉ có vai trò quan trọng.

Sụp mi tuổi già:

Là nguyên nhân phổ biến nhất của sụp mi mắc phải, sụp mi một cách tự phát ở người già do mô quanh mắt trở nên lỏng lẻo, đặc biệt là cân cơ nâng mi trên. Thường xảy ra ở cả 2 bên, biểu hiện bằng nếp mí to, khoảng cách từ đồng tử tới bờ mi nhỏ lại, giống với sụp mi do nhược cơ ở chỗ bệnh thường nặng lên về cuối ngày. Đồng tử bình thường.

Nhược cơ

Sụp mi biểu hiện đa dạng trong bệnh nhược cơ, trở nên trầm trọng hơn khi bệnh nhân càng cố gắng. Đồng tử bình thường, tuy nhiên thường kèm theo nhìn đôi, yếu mỏi cơ toàn thân. Nếu bệnh nhược cơ gây ảnh hưởng duy nhất lên mắt trong vòng 3 năm trở lên thì thường sẽ không dẫn đến những biểu hiện yếu mỏi toàn thân.

Tái tạo bất thường của dây thần kinh III

Xảy ra sau khi dây thần kinh số III bị tổn thương (do chấn thương hoặc sau phẫu thuật) sự tái tạo sai hướng của các mô tổn thương dẫn tới một số vận động bất thương như: nâng mi trên khi bênh nhân cố gắng nhắm mắt.

Case 2: u mi

Bệnh nhân nam, 76 tuổi, tình cờ phát hiện thấy nốt nhỏ ở bờ mi dưới trong một lần đo huyết áp, nhìn kỹ hơn bạn quan sát thấy một số mạch máu nhỏ hơi giãn trên nền tổn thương. Vậy chẩn đoán nào phù hợp nhất?

U biểu bô tế bào đáy (Basal Cell Carcinoma):

Đây là loại ung thư rất hay gặp ở người da trắng do tiếp xúc quá mức với ánh nắng mặt trời, thường xuất hiện ở bờ mi dưới. Dấu hiệu chỉ điểm là tổn thương dạng nốt- loét với những mạch máu giãn nhẹ trên bề mặt. Tuy nhiên chúng cũng có thể biểu hiện là tổn thương xơ có thể thâm nhiễm và gây biến dạng bờ mi.

Về mặt điều trị, không cần phải vội vã vì ung thư loại này xâm lấn tại chỗ chậm và không di căn. Do đó bạn cần khuyên bệnh nhân của mình sắp xếp một cuộc hẹn với bác sĩ chuyên khoa mắt.

U sắc tố ác tính (malignant melanoma)

Hiếm khi phát triển ở vùng bờ mi. Tổn thương có thể có sắc tố, có thể dạng mảng hoặc dạng nốt.

Ung thư biểu mô tuyến bã

Là loại u ác tính của tuyến meibomian, hay gặp ở người lớn tuổi. Không giống như ung thư biểu mô tế bào đáy, loại này thường gặp ở mi trên. Hình dáng có thể dạng nốt như giống như chắp tái diễn, hoặc thâm nhiễm giống như viêm dai dẳng khu trú ở bờ mi.

Một bệnh nhân mà chắp mọc đi mọc lại ở một vị trí, sinh thiết trở thành biện pháp chẩn đoán quan trọng.để chắc chắn rằng khối u đó không phải là ung thư biểu mô tuyến bã.

Còn loại ung thư dạng thâm nhiễm thường lan ra kết mạc khiến việc chẩn đoán bị nhầm với viêm kết mạc mạn tính. Loại ung thư này có tỷ lệ tử cong cao, xấp xỉ 10%

Ung thư biểu mô tế bào vảy (Squamous Cell Carcinoma)

Ít phổ biến so với ung thư biểu mô tế bào đáy. Vẻ ngoài của nó có thể trông rất giống với ung thư biểu mô tế bào đáy nhưng nhìn chung là đa dạng về hình thái: dát phẳng, nốt hoặc loét. Ung thư loại này không có mạch máu trên bề mặt nhưng lại tăng kích thước rất nhanh.

Case 3: Sưng phù mi mắt

Nam giới, 57 tuổi, đang rỏ mắt dung dịch chloramphenicol thường qui sau mổ thay thủy tinh thể. Hiện nay ông ta thấy mắt ngứa, đỏ và sưng như hình minh họa. Chẩn đoán nào là phù hợp?

Viêm da dị ứng do tiếp xúc:

Do sự nhạy cảm của mắt với thuốc rỏ mắt, có thể là thành phần dược chất hoặc chất bảo quản. Những phượng tiện làm đẹp hay sơn móng tay cũng có thể là nguyên nhân. Phù nề sẽ giảm dần, da bề mặt sẽ dày lên và bong vảy. Tổn thương giới hạn ở lớp thượng bì, sẽ khỏi trong vòng 1 tuần.

Điều trị đơn giản, chỉ cần loại bỏ tác nhân dị ứng và sử dụng kem steroid loại nhẹ bôi lên vùng da tổn thương. Có thể bôi một loại thuốc tê bề mặt hoặc ép bằng khăn lạnh nếu triệu chứng đau rát dữ dội. Antihistamine làm bệnh nhân dễ chịu phần nào.

Cần ghi chú thông tin dị ứng vào hồ sơ bệnh nhân, những lần tiếp theo nên dùng thuốc rỏ mắt không chứa chất bảo quản.

Phù mạch:

Là các tổn thương phù- không đau xảy ra ở môi, mi mắt, tay và bộ phận sinh dục. Khi xảy ra ở mắt, thường xuất hiện ở cả hai bên do nguyên nhân là dị ứng với thức ăn hay thuốc uống (aspirin là ví dụ đầu bảng) hoặc dị ứng với latex. Điều trị thường sử dụng kháng Histamine.

Viêm da cơ địa

Viêm da cơ địa nếu xảy ra ở mắt thường liên quan cả hai bên. Da mi sẽ dày lên và nứt. Thường kèm theo hen hay viêm mũi dị ứng.

Impetigo

Là một nhiễm trùng nông ở da, thường biểu hiện bằng các đám da đỏ bong vảy vàng. Nhiễm trùng nông ở mặt thường biểu hiện sưng phù mi mắt do sự thông nhau của mô liên kết dưới da mặt.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here